Giá nông sản đang trên đà bất lợi

Giá nông sản đang trên đà bất lợi

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 9 vừa qua, giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục xu hướng giảm. Hồ tiêu đánh dấu tháng giảm thứ ba liên tiếp. Trong khi đó, giá cà phê, hạt điều tăng mạnh do thị trường lo ngại về sản lượng sụt giảm bởi điều kiện thời tiết bất lợi.
Do lượng hàng tồn kho lớn, đầu ra eo hẹp và lúa Thu Đông sớm bắt đầu thu hoạch nên giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã giảm từ 400 – 800 đồng/kg.
Khác với những lần trước, việc trúng thầu cung cấp 150.000 tấn gạo 25% tấm cho Philippines lần này dường như không có tác động nào đến thị trường lúa gạo trong nước.
Cụ thể, lúa IR50404 tại An Giang giảm từ 4.800 đồng/kg xuống còn 4.400 đồng/kg; lúa IR50404 tại Vĩnh Long giảm từ 4.800 đồng/kg xuống còn 4.300 đồng/kg.
Lúa tươi tại Bạc Liêu giảm từ khoảng 4.800 – 5.000 đồng/kg xuống còn 4.200 – 4.300 đồng/kg. Các loại lúa chất lượng cao như OM 2514, OM 1490 giảm từ 5.000 đồng/kg xuống còn 4.700 – 4.800 đồng/kg.
Tương tự như thị trường gạo, giá hạt tiêu tiếp tục giảm so với tháng trước, đánh dấu tháng giảm thứ ba liên tiếp. Tính trung bình, giá thu mua tiêu đen xô tại các tỉnh trồng tiêu trọng điểm Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk, Đồng Nai ở mức 149.500 đến 152.900 đồng/kg, giảm khoảng 7.000 đồng/kg so với trung bình tháng trước.
Giá tiêu trong nước suy yếu cùng trong bối cảnh ảm đạm của thị trường thế giới, đồng thời bị ảnh hưởng bởi thông tin dự báo sản lượng hồ tiêu Việt Nam năm tới ở mức cao.
Trái ngược với thị trường lúa gạo, hạt tiêu, thị trường cà phê, điều, cao su trong nước tiếp tục có diễn biến tăng mạnh. So với cuối tháng 8/2016, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên tăng 3.000 – 3.100 đồng/kg lên 41.300 – 41.700 đồng/kg.
Giá cà phê tăng mạnh do thị trường lo ngại về sản lượng cà phê của Brazil và Việt Nam sẽ sụt giảm do điều kiện thời tiết bất lợi. Mặc dù giá cà phê nội địa tăng nhưng vẫn không thúc đẩy được lượng bán ra khi những người bán găm hàng, hy vọng giá tiếp tục tăng.
So với thời điểm cuối năm ngoái, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên tăng 8.300 – 8.400 đồng/kg. Dự báo, giao dịch cà phê Việt Nam sẽ chậm lại cho tới khi vụ thu hoạch thực sự bắt đầu.
Về cao su, giá cao su thành phẩm tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh diễn biến tăng tích cực, với mức tăng từ 1.400 – 1.500 đồng/kg. Trái lại, giá mủ cao su dạng nước tại Bình Phước lại giảm 500 đồng/kg, từ 7.520 đồng/kg xuống chỉ còn 7.040 đồng/kg đối với mủ tạp 32 độ.
Tuy giá cao su thành phẩm tại một số địa phương vẫn tăng, song mức giá hiện nay thấp hơn so với cách đây 3 tháng.
Tăng mạnh nhất vẫn là hạt điều và hiện đang đạt mức đỉnh cao. Giá thu mua hạt điều khô tại Đồng Nai là 49.000 – 50.000 đồng/kg, tăng gần 10.000 đồng/kg so với đầu năm.
 Tại Bình Phước, giá thu mua hạt điều khô đạt 49.500 đồng/kg, tăng 3.500 đồng/kg. Ðây là mức cao nhất từ nhiều năm trở lại đây do nguồn cung nội địa khan hiếm trong khi nhu cầu xuất khẩu tăng cao.
Theo chuyên gia phân tích thị trường Lê Văn Liền, sự tăng giá do điều mất mùa năm 2016 khiến cung giảm. Ngành điều thế giới đối mặt với tình trạng cầu vượt cung, cùng với rủi ro mất mùa khiến giá điều có xu hướng tăng trong 3 năm trở lại đây.
Với lượng tiêu thụ đứng thứ hai (sau hạnh nhân) và tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 6% (cao hơn hạt hạnh nhân) ngành hạt điều hứa hẹn sẽ phát triển mạnh mẽ trong những năm sắp tới.
Bối cảnh thương mại Việt – Trung đang dần tích cực

Bối cảnh thương mại Việt – Trung đang dần tích cực

Việt Nam – điểm sáng thương mại toàn cầu

Trước hết, nhìn một cách tổng quát, năm 2017 tiếp tục là một năm đầy khó khăn đối với thương mại toàn cầu. Các số liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho thấy, chỉ số giá hàng hóa thế giới năm 2017 chỉ đạt 99,9 điểm phần trăm, giảm 10,1% so với năm 2016.

Không những vậy, nếu tính từ năm 2011 đến nay, đây đã là năm thứ sáu liên tiếp, giá hàng hóa trên thị trường thế giới giảm và tổng mức giảm (năm 2016 so với năm 2011) đã lên tới 48%. Trong đó, nếu xét theo nhóm hàng, giá năng lượng “rơi tự do” ở mức 57,8%, giá hàng phi dầu mỏ giảm 30,9%, hàng lương thực – thực phẩm giảm khiêm tốn nhất cũng ở mức 19,6%.

Rõ ràng, bất chấp nỗ lực gia tăng xuất khẩu của các quốc gia, việc giá cả thế giới ngày càng tụt dốc mạnh đã làm cho thương mại thế giới “co lại”.

Các số liệu thống kê nhanh của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho thấy, trong 10 tháng năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới chỉ đạt gần 12.200 tỷ USD, giảm 4% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, “người khổng lồ” số 1 thế giới là Trung Quốc chỉ đạt 1.700 tỷ USD, giảm tới 8,2%; cường quốc xuất khẩu số 2 thế giới là Mỹ chỉ đạt 1.200 tỷ USD, giảm 4,6%; còn cường quốc xuất khẩu số 3 thế giới là Đức đạt 1.120 tỷ USD, hầu như giậm chân tại chỗ…

Trong bối cảnh thương mại thế giới trì trệ như vậy, Việt Nam thực sự là điểm sáng nổi bật, bởi không chỉ là quốc gia hiếm hoi có nhịp tăng trưởng dương, mà còn là quốc gia đạt kỷ lục tăng trưởng, với mức tăng 7,1%, nằm trong Top 50 quốc gia xuất khẩu hàng hoá nhiều nhất thế giới.

Việt Nam – thị trường của hàng hóa Trung Quốc

Các số liệu thống kê cho thấy, nếu như cách đây một thập kỷ, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang nước ta mới là 5,6 tỷ USD và chúng ta chỉ là thị trường xuất khẩu lớn thứ 22 của nước này, thì đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam tăng vọt lên 66,4 tỷ USD và Việt Nam trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Trung Quốc.

Trong khi nhập khẩu từ thị trường thế giới nói chung tăng 4,6%, thì nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc không tăng. Trong đó, nhập khẩu mặt hàng điện thoại và linh kiện giảm tới gần 1 tỷ USD…

Nhìn từ một góc độ khác, trong khi xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc ra thị trường thế giới nói chung trong 10 năm qua chỉ tăng bình quân 11,6%/năm, xuất khẩu sang 40 thị trường lớn nhất cũng chỉ tăng bình quân 11,3%/năm, thì xuất khẩu sang Việt Nam tăng tới 28%/năm.

Trong khi đó, cho dù nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Việt Nam trong cùng kỳ cũng tăng cao gấp 2,5 lần so với nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu của 40 thị trường lớn nhất (25,7%/năm so với 9,8%/năm), nhưng do xuất phát điểm chỉ ở mức gần 2,6 tỷ USD, nên kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2015 cũng chỉ đạt hơn 25 tỷ USD và nước ta khiêm tốn xếp thứ 17 trong các thị trường nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc.

Chính vì xuất phát điểm thấp và lại tăng chậm hơn, nên xuất siêu của Trung Quốc sang Việt Nam trong 2 năm 2014 – 2015 đều vượt ngưỡng 40 tỷ USD/năm.

Đặc biệt, do xuất siêu của Trung Quốc sang Việt Nam có xu hướng tăng lên, nên đây đã là vấn đề không ít lần được đưa vào chương trình nghị sự của lãnh đạo hai nước, nhưng chưa đạt kết quả như mong muốn.

Năm 2017 bắt đầu chuyển hướng

Câu chuyện Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc đã bắt đầu có chuyển biến từ năm 2017. Các số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong 11 tháng của năm 2016 đạt 19,6 tỷ USD, tăng đột biến hơn 4,1 tỷ USD (tương đương mức tăng 26,7%), cao gấp hơn 3 lần so với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu ra thị trường thế giới nói chung.

Trong đó, riêng mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng hơn 1 tỷ USD; nhóm 11 mặt hàng nông – lâm nghiệp và thủy sản xuất khẩu chủ yếu tăng 650 triệu USD (riêng mặt hàng rau quả tăng tới 450 triệu USD)…

Trong khi đó, ở đầu vào nhập khẩu, trong khi nhập khẩu từ thị trường thế giới nói chung tăng 4,6%, thì nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc không tăng. Trong đó, tuy nhập khẩu hầu hết các mặt hàng vẫn tăng, nhưng nhập khẩu mặt hàng điện thoại và linh kiện giảm tới gần 1 tỷ USD; còn nhập khẩu ô tô nguyên chiếc, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 400 – 500 triệu USD…

Chính nhờ những động thái như vậy, nên thay vì hầu như xuất 1 nhập 3 như mấy năm gần đây, tỷ lệ nhập siêu từ thị trường Trung Quốc trong 11 tháng năm 2016 đã giảm còn 25,5 tỷ USD.

Tất cả những điều nói trên cho thấy, giảm nhập khẩu và nhập siêu từ thị trường Trung Quốc là cả một chặng đường dài, phải dựa vào những nỗ lực tự thân.

Trung Quốc tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam

Trung Quốc tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 9/2017 ước đạt 466 nghìn tấn với giá trị đạt 210 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 4,57 triệu tấn và 2,02 tỷ USD, tăng 20,8% về khối lượng và tăng 18,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Xét về thị trường, cập nhật đến hết tháng 8/2017, Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam với 38,8% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2017 đạt 1,56 triệu tấn và 700,7 triệu USD, tăng 32% về khối lượng và tăng 30,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Trong khi đó, Philippines là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ 2 của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2017 với 9,3% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2017 đạt 421,77 nghìn tấn và 167,25 triệu USD, gấp 2,15 lần về khối lượng và gấp 2 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Đứng thứ ba là thị trường Malaysia với 7,8% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2017 đạt 365,7 nghìn tấn và 141,68 triệu USD, tăng 80,9% về khối lượng và tăng 61,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Xuất khẩu gạo tăng mạnh khiến tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng nông lâm thuỷ sản tháng 9/2017 ước đạt 3,04 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2017 đạt gần 27 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2016.